Hiển thị các bài đăng có nhãn trẻ ăn dặm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trẻ ăn dặm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

Cha mẹ nên dạy trẻ ăn như thế nào cho đúng?

Viện Nhi Khoa Hoàng Gia Anh cho biết, thời điểm cho con ăn dặm từ 6 - 9 tháng tuổi là thời điểm quan trọng cho trẻ học cách ăn, trẻ cũng có cơ hội được thưởng thức món mới, mà trước đó bé chỉ biết đến sữa là nguồn thức ăn chính. Trẻ học cách nhai, học cách phân biệt các vị từ thực phẩm tự nhiên, học về màu sắc thức ăn và học về cấu trúc thức ăn cho những giai đoạn sau đó.Từ khi bắt đầu ăn dặm, hãy giúp trẻ:

- Tạo môi trường ngồi ăn không bị chi phối với TV, điện thoại, đồ chơi hoặc nhiều người.

- Ngồi trên ghế ăn dặm hoặc ngồi tựa lưng vào mẹ để ăn nếu bé chưa ngồi vững.

- Hãy giới thiệu lần lượt từng món ăn để trẻ cảm nhận mùi vị thức ăn. (Xem thêm: Phương pháp ăn dặm 3 days wait).

- Hãy thay đổi cấu trúc thức ăn theo độ tuổi để trẻ học cách nhai và luyện tập tốt kĩ năng phân tích cấu trúc thức ăn. (Xem thêm: Làm sao cho trẻ hết biếng ăn khi mới bắt đầu ăn dặm).

- Hãy ngưng khi trẻ có những biểu hiện no hoặc không muốn ăn như quay đầu, đẩy thức ăn. Hãy đợi đến bữa sau giới thiệu lại.

- Đừng giới thiệu 1 lúc quá nhiều. Hãy bắt đầu món mới với 1-2 muỗng, sau đó tăng dần. Đừng mong đợi quá nhiều bé trước 1 tuổi ăn hết chén này tô nọ, bé chịu thử chịu ăn là bạn đã thành công. Mục tiêu thành công của bạn không nên ở lượng mà là ở cách bé học được gì trong bữa ăn.

Khi trẻ từ 3 tuổi, hãy dạy trẻ điều này: Con có thể ăn ít hơn hoặc quyết định không ăn, nhưng đừng bỏ phí đồ ăn! Việc dạy trẻ giá trị của bữa ăn và đây cũng là cách dạy trẻ về lượng ăn trên 1 tinh thần thỏa thuận.

Thứ Tư, 5 tháng 4, 2017

Nên cho trẻ ăn thịt/cá khi nào?

Thịt bò/heo giới thiệu tuần thứ 2 ăn dặm (hoặc từ 6-6,5 tháng).

Lươn/cá/thịt gà/tôm có thể giới thiệu cho bé sau 7,5 tháng tuổi (hoặc sau tuần 7-8 ăn dăm), tuy nhiên lươn nên giới thiệu sau cá sông, thịt gà, tôm, nhưng trước cá biển (cá thu, cá hồi).


Hải sản khác là giới thiệu sau cùng nhất (khi bé ít nhất hơn 10 tháng).

Thứ tự giới thiệu thực phẩm này BYT Anh hướng dẫn nhằm mục đích ngăn ngừa dị ứng và phù hợp với hệ thống men tiêu hóa phát triển từng độ tuổi để các bé ăn tốt hơn, ít bị rối loạn tiêu hóa. Nếu bé nào lỡ cho ăn không đúng thứ tự, nhưng không xảy ra dị ứng hay khó chịu nào thì không sao, cha mẹ đừng quá lo lắng.

* Xem thêm:

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2016

Cách chế biến một số loại thực phẩm ăn dặm cho bé: Trứng/ thịt bò heo/ thịt gà

Theo Hướng dẫn lâm sàng cho việc chế biến thức ăn dặm của Hiệp Hội Dinh Dưỡng lâm sàng Anh, việc chế biến đúng sẽ đảm bảo chất dinh dưỡng trong thực phẩm, và cung cấp đúng lượng cho bé hấp thụ tốt nhất, giảm các triệu chứng tiêu hóa (nếu có) và tình trạng biếng ăn theo độ tuổi.

Cách chế biến lòng đỏ trứng ăn dặm (nên bắt đầu tuần 3-4 ăn dặm):

Lựa trứng to, không bị vỡ, cho trứng vào nồi, đổ nước vào ngập trứng, đun đến sôi, rồi đậy nắp đun 18 phút.

Làm lạnh nhanh bằng vòi nước chảy, để giữa lòng bàn tay, xoa làm vỡ vỏ trứng, bóc vỏ ở đầu to lấy lòng đỏ

Chế biến lòng đỏ: cho lòng đỏ + 1 muỗng canh (10ml) sữa hoặc nước ấm.

Cho bé ăn ngay (không khuyến khích trữ đông hay bảo quản lạnh trứng đã chế biến)

Bữa ăn khuyến khích:


+Ăn bữa chính: ăn với cháo

+Ăn bữa phụ: cho bé ăn trực tiếp (không có cháo)

Cách chế biến thịt bò hay thịt heo ăn dặm (nên bắt đầu tuần thứ 2 ăn dặm):

Bé dưới 14 tháng tuổi chọn thịt nạt (bỏ mỡ, sụn, dây chằng màu trắng trong thịt): 20-25gr/bữa

Bé trên 14 tháng tuổi -3 tuổi chọn thịt có mỡ ít (bỏ sụn, dây chằng màu trắng trong thịt): 30-40gr/bữa

Cách chế biến: Nấu thịt trong nước lửa nhỏ, đến khi mềm, sau đó làm nhuyễn thịt.

 Bữa ăn khuyến khích:

+Những bữa ăn cho buổi đầu: giới thiệu thịt 3 ngày: thịt chế biến như trên + 25ml nước/cháo, hâm nóng ở nhiệt độ 80 độ C trong 10 phút.

+Bữa ăn chính khi bé quen: thịt chế biến trên + cháo, hâm nóng ở nhiệt độ 80 độ C trong 5 phút. Khi ăn trộn 15ml sữa, cho bé ăn ngay khi ấm.

+Bữa ăn kết hợp (khi bé ăn quen, đã kết hợp đầy đủ nhiều thành phần): 25gr thịt như trên + 25gr cháo/cơm nát/khoai tây nghiền/bún + 20gr rau xanh + 37.5-45ml nước. Trộn chung, hâm nóng ở nhiệt độ 70 độ C trong 8 phút.

Để bớt nóng và cho bé ăn ngay (không khuyến khích trữ đông hay giữ lạnh khi đã kết hợp nhiều thành phần)

Cách chế biến thịt gà ăn dặm (nên bắt đầu khi tuần thứ 7 ăn dặm)

Thịt gà nạt (bỏ da, sụn, mỡ và dây chằng): 25-30gr/bữa

Cách chế biến: Có 2 cách

+ Nấu thịt trong nước lửa nhỏ, đến khi mềm, xé thịt (làm nhuyễn thịt).

+ Chiên với 1 muỗng dầu oliu, vàng nhẹ 2 mặt. Nấu trong trong nước lửa nhỏ, đến khi mềm, xé thịt (làm nhuyễn thịt).

Bữa ăn khuyến khích:

+Những bữa ăn cho buổi đầu: giới thiệu thịt 3 ngày: thịt gà chế biến như trên + 25ml nước/cháo, hâm nóng ở nhiệt độ 80 độ C trong 10 phút.

+Bữa ăn chính khi bé quen: thịt chế biến trên + cháo, hâm nóng ở nhiệt độ 80 độ C trong 5 phút. Khi ăn trộn 15ml sữa, cho bé ăn ngay khi ấm.

+Bữa ăn kết hợp (khi bé ăn quen, đã kết hợp đầy đủ nhiều thành phần): 25gr thịt như trên + 25gr cháo/cơm nát/khoai tây nghiền/bún + 20gr rau xanh + 37.5-45ml nước. Trộn chung, hâm nóng ở nhiệt độ 80 độ C trong 8 phút.

Để bớt nóng và cho bé ăn ngay (không khuyến khích trữ đông hay giữ lạnh khi đã kết hợp nhiều thành phần)

Theo hướng dẫn lâm sàng về ăn dặm của Bộ Y Tế Anh,  tùy theo độ tuổi của trẻ mà cho bé ăn bữa ăn chính, bữa phụ hay bữa ăn kết hợp:

+ Bé bắt đầu ăn dặm - tuần 9 ăn dặm: nên duy trì 1 bữa chính/ngày

+ Bé từ tuần 10 ăn dặm - tuần 15 ăn dặm: nên có 1 bữa chính/ngày + 1 bữa phụ/ngày

+ Bé từ tuần 16 ăn dặm - tuần 24 ăn dặm: 1 bữa chính, 1 bữa kết hợp đa dạng , 1-2 bữa phụ

+ Bé từ tuần 24 ăn dặm - 35 tuần ăn dặm: 1 bữa chính + 2 bữa kết hợp đa dạng + 1 bữa phụ

+ Bé từ 36 tuần ăn dặm: 3 bữa kết hợp đa dạng + 1-2 bữa phụ

*Nguồn: BS Anh Nguyen

Thứ Tư, 16 tháng 11, 2016

Phương pháp ăn dặm kiểu Nhật

Lựa chọn phương pháp ăn dặm nào phù hợp nhất với thể trạng của con luôn là nỗi băn khoăn của nhiều mẹ. Chúng ta cùng tìm hiểu về phương pháp ăn dặm - một trong những phương pháp được nhiều mẹ áp dụng nhé. 

Ăn dặm kiểu Nhật là gì?

 a.     Là phương pháp mà trẻ được tập ăn qua 4 giai đoạn, theo đó mà độ thô của thức ăn tăng dần. Phân chia giai đoạn là phụ thuộc vào sinh lý của trẻ, lúc nào thì có phản xạ nuốt, lúc nào có phản xạ nhai.

    + Giai đoạn 1: 5-6 tháng: Giúp bé nhớ cách dùng lưỡi đẩy thức ăn từ ngoài vào trong rồi nuốt
    + Giai đoạn 2: 7-8 tháng: Giúp bé nhớ cách dùng lưỡi để đưa và đẩy thức ăn lên và xuống
    + Giai đoạn 3: 9-11 tháng: Giúp bé nhớ các dùng lợi để nghiền thức ăn cứng
    + Giai đoạn 4: 12-15 tháng: Giúp bé nhớ cách dùng răng để ăn



>> Xem thêm: Làm sao cho trẻ hết biếng ăn khi mới bắt đầu ăn dặm?

 b.    Nguyên tắc cho con ăn dặm:

- Tập ăn từ ít rồi tăng dần. Từ 5 đến 8 tháng vẫn ưu tiên sữa hơn, và sau 9 tháng thì mới ưu tiên ăn dặm. Lúc mới đầu tập theo phương pháp này thì trẻ ăn ít, điều này sẽ khiến cha mẹ cảm thấy sốt ruột. Vì vậy, cha mẹ cần phải bình tĩnh đón nhận và cố gắng kiên nhẫn. Phải để cho con quen và thích thú dần. Sau này con quen rồi thì sẽ ăn nhiều hơn.
-  Khi mới bắt đầu ăn theo phương pháp này nên cho trẻ ăn riêng từng món để làm cho vị giác con phát triển, ngon hơn. Sau này con lớn rồi thì con có thể thích loại này, không thích loại kia rất dễ khi con được ăn riêng từng món như vậy. Sau này con quen rồi thì thỉnh thoảng ta lại đổi bữa cho ăn chung với nhau, rất linh hoạt.
-  Trong ngày nên cho con ăn chỉ 1 thứ mới để theo dõi phản ứng của con. Cũng nên cho bé ăn 2 ngày liên tục như thế.

 c.      Cách cho con ăn:

-  Tôn trọng con: tạo cho con thích thú ăn uống, tự động há miệng ra ăn chứ ko ép con ăn. Không ăn, nhè ra hoặc khóc là dừng.
 - Tìm nguyên nhân vì sao con không ăn: có thể con đang khó chịu cái gì đấy: buồn ngủ, ị, chỗ ngồi chưa thoải mái,…
  - Thức ăn chưa được trơn: khi mẹ tăng độ thô mà con chưa kịp thích ứng thì dừng 2 ngày, chế biến thức ăn trơn hơn cho con, thức ăn có ngon không?
  - Thức ăn không ngon: mẹ phải ăn cùng con để biết có ngon không nhé!

Không:

 - Không xem ti vi
 - Không chơi khi ăn, chỉ nói chuyện với con khi ăn, ko cho trẻ cầm đồ chơi khi ăn
 - Không cho ăn lâu, 20-25 phút ko ăn hết cũng dừng. Kinh nghiệm là cho con ăn liên tục, tập trung. Ăn tập trung giúp con tiêu hóa tốt hơn và tập thói quen tốt cho con trong ăn uống.
- Không cho con ăn vặt
- Ngồi cố định 1 chỗ để ăn: ngồi ghế ăn. Tập cho con thói quen ngồi 1 chỗ, ăn xong mới được được ra. Sau này con biết hơn thì tập cho con muốn ăn thì giơ tay, tự ngồi vào ghế và đeo yếm vào. Không muốn ăn nữa thì giật yếm ra và ra khỏi ghế.

Ưu và nhược điểm ăn dặm kiểu Nhật

 a. Nhược điểm:

-  Cái này quạn trọng nhất đây. Cần phải trao đổi với chồng và người thân trong gia đình để thống nhất là theo phương pháp ăn dặm kiểu Nhật. Vì nó mới và lạ lùng nên rất hay gặp sự phản đối của người khác, điều đó làm chúng ta mất kiên nhẫn. Khi đó chúng ta sẽ lung lạc, xoay sang kiểu ép con ăn hoặc đi rông, bla bla. Chúng ta sẽ thất bại

-   Cần xác định với nhau rằng: tập ăn dặm gồm  2 phần: con được ăn và con được học cách tự giác ăn. Chính vì thế mà ko nhồi nhét cho con ăn bằng mọi giá. Hậu quả có thể là con sẽ không quá béo tốt đâu, chỉ tăng trưởng trong mức đủ tiêu chuẩn thôi. Ví dụ như nếu con không ăn thì không ép, sẽ tìm cách bù cho con như uống thêm sữa hoặc bổ sung thêm vitamin và khoáng,…

-  Gần như là các con sẽ được ăn riêng từng món, do đó chúng ta sẽ mất công và thời gian chế biến món ăn. Lúc đầu là cháo, sau 1 tuần sẽ thêm rau và sau 1 tháng đầu thì các con ăn 3 món 1 bữa. 

    b.    Ưu điểm:

-  Con được học ăn theo đúng giai đoạn sinh lý, tập phản xạ nuốt, nhai theo đúng sự phát triển.
-  Con được ăn đa dạng, từng món riêng nên vị giác của con sẽ tinh tế hơn. Lớn lên sẽ không kén ăn, nhất là rau.
- Tránh được chuyện: ăn lâu, ngậm, đi rông, xem ti vi, cả nhà phải bày đủ trò mới chịu ăn 1 miếng (dọa công an, ông ba bị,…), ko ăn rau, kén ăn. Thay vào đó là thái độ thích thú với ăn uống, tập trung khi ăn sẽ làm cho bộ máy tiêu hóa của con hoạt động tốt hơn, các dịch tiêu hóa tiết ra tốt hơn. Và như thế, con sẽ biết ăn ra ăn, chơi ra chơi, chủ động trong ăn uống, rèn luyện được tính tự lập khi tự ăn, tự uống, tự chọn đồ ăn ưa thích,…

>> Xem thêm: Kinh nghiệm ăn dặm cho bé từ 6 tháng đến 3 tuổi chuẩn khoa học

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2016

Cách sơ cứu đơn giản, cha mẹ nào cũng cần biết

Trẻ nhỏ vốn hiếu động, đi bò khắp nhà nên việc xảy ra các chấn thương là điều không thể tránh khỏi. Đôi lúc những vết thương rất nhỏ, không cần điều trị thuốc và sẽ tự lành, nhưng một số cha mẹ không biết cách xử lý và sơ cứu đúng có thể làm vết thương nhiễm trùng và gây phức tạp trong điều trị. Hơn nữa, một số chấn thương bình thường và không để lại vết thương (như chấn thương đầu) cũng có thể gây nguy hiểm tính mạng của trẻ nếu cha mẹ không biết cách xử lý và theo dõi. Nhận biết sự cần thiết về một số kĩ năng cơ bản để giúp các bé sống khỏe mạnh và an toàn, bài viết này sẽ đề cập đến 1 số nhận biết cơ bản về mức độ tổn thương và xử lý nhanh để cha mẹ kịp thời giúp trẻ.

Trẻ bị bé khác cắn

Chuyện 2 trẻ cắn nhau là rất thông thường. Đặc biệt khi trẻ có 3 cái răng trở lên. Ngày nay, hầu hết các bé đều được tiêm phòng nên vết cắn không đáng lo ngại nếu nó không chảy máu nhiều. Tuy nhiên không cằm được hoặc nhìn thấy 2 lớp thịt màu khác nhau. Cha mẹ bình tĩnh xử lý tình huống như sau:

- Tách 2 trẻ ra xa, đừng la mắng trẻ cắn, mà bế bé bị cắn ra chỗ khác và vỗ bé nín. Khi bé bình tĩnh, thì tiếp tục làm các bước sau.

- Cho 3 giọt xà bông tắm của trẻ vào cái thau nhỏ để bé ngâm vết cắn 30 giây và sau đó dùng cái ly múc nước sạch xối vào vết thương 5-6 lần để sạch xà phòng.

- Lau khô bằng khăn sạch, đừng chà xát kì cọ làm trẻ đau.

- Nếu vết thương sưng đỏ, mưng mủ, trẻ sốt nhẹ, mệt mỏi thì cho bé đi viện ngay để xử lý. Trong 24 giờ nếu vết cắn bình thường thì không gì lo lắng.

Nếu biết bé bị cắn bởi 1 bé có bệnh truyền nhiễm nào đó (như HIV), thì sau khi xử lý bằng xà phòng như trên 1 phút, cho vết cắn dưới vòi nước chảy 20 phút và đưa bé đi viện trong 2 giờ sau đó để xử lý tiếp.


>> Xem thêm: Bổ sung vitamin tăng sức đề kháng cho trẻ đúng cách
Trẻ bị côn trùng đốt

Việc trẻ bị muỗi, kiến hoặc côn trùng cắn là chuyện rất hay xảy ra. Da bé cũng rất nhạy cảm với một số hóa chất tiết ra từ vết cắn của côn trùng mà có những biểu hiện triệu chứng từ nhẹ đến nặng khác nhau. Có bé thì chỉ ngứa, đỏ bình thường, nhưng có bé sẽ sưng và xuất hiện bội nhiễm hoặc nhiễm trùng cơ hội (gây bệnh lý chốc lỡ), hoặc có bé sẽ nóng sốt (có thể do phản ứng dị ứng diễn ra).

* Cách xử lý khi bị côn trùng đốt

- Rửa vết cắn bằng nước sạch 3 lần bằng cách đổ nhẹ nước lên vùng cắn. Lưu ý: chỉ áp dụng cho vết cắn không chảy máu.

- Dùng khăn nhúng nước lạnh đắp lên vết cắn 20 phút để giảm nhẹ sưng và làm trẻ dễ chịu.

- Cắt ngắn móng tay của bé để hạn chế bé gãi gây lở và đỏ vết cắn.

- Nếu tình trạng có sưng đỏ và đau cho bé, có thể dùng kem thoa chứa hydrocortisone (1%) hoặc bột nổi pha với 1 ít nước tạo dạng hồ sệt đắp lên vết cắn.

- Tình trạng không giảm nhẹ sau vài ngày thì nên tư vấn chuyên gia sức khỏe.

- Không bôi dầu xanh, dầu gió lên vết đốt.

- Nếu trẻ bị ong đốt lên miệng hoặc cổ hoặc bị đốt hơn 10 chỗ cũng nên tư vấn chuyên gia sức khỏe.

- Nếu trẻ biểu hiện mệt mỏi, sưng đỏ, triệu chứng phức tạp, khó thở gia tăng sau 24 giờ bị đốt, nên tư vấn chuyên gia sức khỏe.

- Đa phần các trường hợp vết cắn sẽ lành sau vài ngày.

Trẻ bị ngã đụng đầu

Trẻ ngã hoặc đi, bò đụng trúng đầu là rất thông thường với các bé dưới 4 tuổi. Hầu hết, nếu đụng trúng nhẹ, trẻ sẽ không khóc mà tiếp tục chơi tiếp. Tuy nhiên, triệu chứng nghiêm trọng của chấn thương đầu có thể trì hoãn đến vài giờ hoặc sang ngày hôm sau. Nên cha mẹ dễ bỏ sót. Đến lúc phát hiện thì tổn thương đã khó phục hồi. Một số điều cha mẹ nên lưu ý như sau:

- Độ cao trẻ ngã: nếu trẻ ngã từ độ cao bằng hoặc cao hơn chiều dài của bé thì có thể gây chấn thương nghiêm trọng đến bé.

- Tư thế ngã: ngã nằm ngửa hoặc nghiêng sẽ nghiêm trọng hơn trẻ ngã úm.

- Vị trí vết thương: vùng tổn thương phía sau ót, bên hông sẽ nhiều và nghiêm trọng hơn tổn thương trước trán.

Mặc dù sau khi ngã trẻ không khóc nhiều hoặc vết thương không rõ ràng, cha mẹ chú ý theo dõi trẻ liên tục nghiêm ngặt trong 6h từ lúc trẻ ngã và ghi nhận tất cả biểu hiện của trẻ sau khi ngã. Nếu có bất kì các dấu hiệu sau thì nên cho trẻ vào viện, chụp hình, thăm khám để xử lý kịp thời:

+Mất ý thức (lờ đờ, ngủ li bì). Tình trạng này có thể gặp ngay khi va động mạnh. Tuy nhiên nếu kéo dài quá 2h hoặc tình trạng này thường diễn ra trong 6h theo dõi (trẻ hay ngủ li bì khi chỉ vừa bú hoặc thích nằm không thich chơi).

+Mất đáp ứng: Cha mẹ nên hỏi trẻ thường xuyên, cứ mỗi 30 phút để gây chú ý cho trẻ. Nếu trẻ thường phản ứng lại thì không sao.

+Nhiều hơn 2 lần ói vô thức (không phải lúc ăn nhợn ói)

+Vết thương xưng và có sự xuất huyết dưới da. Máu có thể chảy ra từ tai và khóe mắt. Lúc này, cha mẹ gọi cấp cứu ngay (chú ý lúc bé ngủ vào buổi tối)

+Trẻ không thể tự nâng cánh tay hoặc chân. Bạn sẽ thấy trẻ ít di chuyển, thường thích nằm, ít vận động. Bé lớn bạn yêu cầu bé nâng chân tay lên. Trẻ nhỏ bạn đưa món đồ chơi bé thích để bé cầm, nếu bé không nâng tay lên cầm có thể là 1 dấu hiệu.

+Thấy xuất hiện những vùng xanh đen sau tai và dưới mắt

+Trẻ khóc hoặc than đau hơn 50 phút

+Trẻ lớn sẽ thấy chóng mặt. Trẻ nhỏ bỏ bú/bỏ ăn, khóc không lớn nhưng dai.

Nếu không có những biểu hiện này trong 6h đầu, cha mẹ nên tiếp tục theo dõi 24h nữa.

*Cách xử lý khi trẻ bị ngã va đầu:

-Ôm trẻ vào lòng và vỗ trẻ bình tĩnh. Kiểm tra mức độ ý thức của trẻ bằng cách: nói chuyện với bé để trẻ nghe giọng bạn, nhìn trẻ để bé nhìn bạn, chạm vuốt ve bàn tay và bàn chân bé để bé có nhận thức.

- Nếu vết thương xưng đỏ thì dùng 1 túi đá (icepack) để lên vết thương 10 phút. Trong lúc đó. bạn luôn trò chuyện với bé như trên để kiểm tra mức độ còn ý thức của bé.

-Nếu vết thương chảy máu, dùng một miếng vải sạch để vào vết thương, giữ chặt để máu không chảy ra. Nên cho bé vào viện để kiểm tra.

-Nếu bé không có vết thương rõ ràng thì nên theo dõi bé 6 giờ nghiêm ngặt như trên, sau đó là 24 giờ.

>>Xem thêm: Trẻ bị táo bón chậm tăng cân, cha mẹ nên làm gì

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

Ăn dặm theo phương pháp tự chỉ huy BLW (baby-led-weaning)

Ăn dặm theo phương pháp BLW là phương pháp ăn dặm dựa trên nguyên tắc cho trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên tự khám phá cấu trúc thức ăn dạng Diced (bỏ qua giai đoạn cấu trúc Puréed và Lumpy) do trẻ không được dùng muỗng để đút.

BLW phù hợp với trẻ nào?


BLW là không phải tất cả các bé đều phù hợp. Gs.BS. Cameron, trưởng khoa Dinh Dưỡng, ĐH Y Otago, New Zealand nhấn mạnh tỷ lệ thành công cao về phương pháp này thường gặp ở:

+ Các trẻ có ít nhất 6 tháng bú mẹ hoàn toàn: các trẻ bú mẹ hoàn toàn.

+ Trẻ có sự phát triển rõ của hệ vận động như khả năng ngồi chống đỡ khá vững, kĩ năng phát triển vận động cầm nắm, hay có sự hứng thú khi cầm thức ăn bỏ vào miệng, vận động lên xuống cơ hàm của bé có sự phát triển.

+Trẻ trai thích hợp với phương pháp này hơn trẻ gái.

+Trẻ sinh thiếu tháng không khuyến khích áp dụng phương pháp này nếu trẻ chưa đạt cân nặng của trẻ bình thường khi 6 tháng tuổi.

+ Các trẻ khác không có nghĩa là không áp dụng được phương pháp này, nhưng tỷ lệ thành công có thể ít hơn hoặc nhiều khó khăn hơn khi áp dụng.
Ăn dặm theo phương pháp tự chỉ huy BLW

 >> Xem thêm: Trẻ hết biếng ăn khi tuân thủ đúng luật mama và luật baby

Độ tuổi có thể áp dụng phương pháp này


Phương pháp này chỉ thích hợp cho các bé đạt 6 tháng tuổi. Các tuổi nhỏ hơn là không thích hợp. Sự giới thiệu quá sớm thì sẽ tăng tỷ lệ thất bại phương pháp và bé dễ dẫn đến biếng ăn kèm theo.

Những thực phẩm ưu tiên cho tuần đầu của phương pháp tự chỉ huy


Theo viện dinh dưỡng Interior, Anh, vì phương pháp BLW là phương pháp bỏ qua cấu trúc pureed. Nên trong những tuần đầu, việc lựa chọn những thực phẩm sau đây để đảm bảo cấu trúc thích hợp khi chế biến dạng DICED mà bé vẫn có khả năng tiêu hóa tốt.

Nhóm rau củ: bông cải xanh; đậu đũa, khoai tây, khoai lang, cà rốt, bí đỏ.

Nhóm quả trái cây: táo, bơ, chuối sữa, xoài, lê.

Nhóm đạm: lòng đỏ trứng , thịt bò hoặc heo.

Nhóm Carbodrate: gạo, nui, mì.

Cấu trúc thích hợp trong phương pháp BLW

6-7 tháng tuổi:

Cấu trúc thức ăn dặm nên là dạng DICED như cơm nát (cơm nấu dẻo (không quá sệt) cà nát bằng muỗng). Thịt/cá có thể cà nát bằng muỗng hoặc xé nát bằng tay. Kết hợp với cấu trúc dạng khối ngón tay (FINGER FOOD)  ở rau củ quả, tuy nhiên chọn rau củ quả từ nhóm ưu tiên.

Trong 4-5 tuần đầu tiên nên chọn những thực phẩm ưu tiên ở trên. Tất cả các rau củ quả (trừ bơ và chuối) đều nên hấp chín và mềm.

Trẻ 8-12 tháng: 

Cấu trúc thức ăn nên chuyển sang FINGER FOOD và cơm/bún có thể xoe viên hoặc vẫn giữ cấu trúc Diced cà nát. Tuy nhiên, ở độ tuổi này nên lựa chọn đa dạng các thực phẩm.

Chú ý


1. Không nên bắt đầu cho trẻ ăn dặm BLW trước 6 tháng tuổi. Để thành công phương pháp này, trẻ nên phát triển ngồi vững sớm thì hãy bắt đầu.

2. Đây là phương pháp trẻ tự học hỏi từ các thành viên khác trong gia đình và khám phá thức ăn theo cách riêng, nhưng sẽ bắt chước cách ăn của cha mẹ. Do đó, bữa ăn của trẻ nên ăn cùng thời điểm với bữa ăn của cha mẹ, nên để ghế ăn dặm của trẻ ở gần để trẻ có thể nhìn thấy cách ăn của cha mẹ để trẻ tự ăn và học hỏi. Thời gian đầu mẹ nên ăn sau, chỉ có bố hoặc ông bà ăn thôi, mẹ hướng dẫn và quan sát trẻ. Bữa ăn không nên quá chú ý vào bé, cha mẹ ông bà cứ ăn bình thường, đừng quá tập trung khen chê bé quá nhiều. Việc quá tập trung vào trẻ sẽ gây trẻ mất tập trung ăn gây phản tác dụng.

3. Đừng quá kì vọng trong vài tuần đầu trẻ ăn nhiều, trẻ học cấu trúc và mùi vị là chính, nên chủ yếu trẻ sẽ chơi nhiều hơn là ăn. Do đó, việc ném nhả thức ăn đầy bàn là bình thường. Do đó, cha mẹ có thể tăng nhiều bữa ăn cho trẻ để trẻ có nhiều cơ hội ăn và khám phá nhiều hơn.

4. Giới thiệu thịt heo/bò tuần thứ 2 ăn dặm BLW

5. Giới hạn bữa ăn của bé dưới 30 phút

6. Cấu trúc FINGER FOOD có thể biến tấu tạo cảm giác giòn từ cá chiên, tôm chiên hoặc khoai tây cắt khoan chiên (không dùng bánh snack). Cấu trúc biến tấu này sẽ giúp các bé ăn BLW không tập trung sẽ tập trung và thích nhai hơn vì cấu trúc biến tấu sẽ tạo cảm giác giòn và nghe vui tai khi các bé cắn vỡ. Tuy nhiên, không nên quá lạm dụng và chỉ giới thiệu 1 bữa/ngày (nếu ăn ngày 2 hoặc 3 bữa).

Theo B.S Anh Nguyen

>> Xem thêm: Ăn dặm cho trẻ giải đoạn từ 6 tháng - 3 tuổi chuẩn khoa học

Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2016

Nhu cầu nước trong một ngày của trẻ từ 0-36 tháng tuổi

Nhu cầu nước là một phần quan trọng để cân bằng dung dịch điện giải của trẻ. Thực tế, những hướng dẫn từ Tổ chức Y Tế của Anh và Mỹ cũng như các chuyên gia dinh dưỡng nhi khoa của Anh và Mỹ đưa ra lời khuyên như thế nào trong việc giới thiệu bổ sung nước cho trẻ?

Nhu cầu nước trong một ngày của trẻ từ 0-6 tháng tuổi:


Trẻ bú mẹ hoàn toàn: Theo hướng dẫn của BYT Anh và Viện Nhi Khoa Mỹ, các trẻ bú mẹ hoàn toàn thì không cần bổ sung thêm nước, thậm chí vào mùa nóng. Nhu cầu trung bình 150ml dung dịch điện giải/kg trọng lượng trẻ, nhu cầu này là hoàn toàn đáp ứng cho các trẻ bú mẹ hoàn toàn.

Thời tiết nóng hoặc bị bệnh hoặc sốt, bạn nên cho trẻ bú mẹ thường xuyên để trẻ lấy đủ lượng nước trẻ cần.

Trẻ bú sữa công thức hoặc trẻ bú kết hợp

Nhu cầu nước trong một ngày của trẻ

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế Anh, các trẻ chỉ nên bổ sung thêm nước trong 3 trường hợp: nếu thời tiết quá nóng, hoặc bị sốt; hoặc bị táo bón. Giới hạn lượng nước bổ sung dưới 60-80ml/ngày.

Lưu ý, khi bị táo bón thì xem lại công thức pha sữa, xem lại việc có mới đổi sữa cho trẻ không, nếu tình trạng kéo dài thì nên tư vấn chuyên gia dinh dưỡng để được tư vấn dùng dung dịch nhuận tràng hoặc relax.

Gs.Bs. Jill, BV Westminster, Anh Quốc đã cho lời khuyên là nên cho trẻ uống nước đun sôi để nguội, không nên cho trẻ uống nước khoáng đóng chai vì hàm lượng cao Natri và sulphate có thể ảnh hưởng đến điện giải của trẻ.

Trẻ từ 6-12 tháng tuổi (bú mẹ hoặc sữa công thức)


Vì các trẻ bắt đầu ăn dặm, lượng nước có thể gia tăng từ thức ăn và sữa, điện giải có thể thay đổi. Do đó, để đảm bảo đủ điện giải cho các hoạt động trong cơ thể, các trẻ 6 - 12 tháng: nhu cầu cần 640 -800ml dung dịch điện giải/ngày [bao gồm từ sữa, nước ép và nước lọc].

Ví dụ: Nếu trẻ chỉ bú 700ml sữa/ngày và uống 30ml nước trái cây, thì trong ngày có thể cho trẻ uống thêm 70ml nước đun sôi để nguội.

Trẻ từ 1-2 tuổi


+ Các bé 1-2 tuổi cần 880 -960ml dung dịch điện giải/ngày

 (Nếu trung bình trẻ uống 500ml sữa và 80ml nước ép trái cây thì trong ngày trẻ cần thêm 300-380ml nước đun sôi để nguội)

Trẻ từ 2-3 tuổi


+ Các trẻ 2-3 tuổi cần 1040ml dung dịch điện giải/ngày .

(Tuổi này trẻ uống sữa khoảng 300-400ml thì 600-700ml còn lại là từ nước đun sôi để nguội)

Trẻ từ 4-8 tuổi

+ Các trẻ 4-8 tuổi cần 1280ml nước/ngày

Nếu  trẻ uống nước quá nhiều thì bị ảnh hưởng gì?


Trẻ có thể bị rối loạn điện giải từ vừa đến nặng

Trẻ có thể giảm lượng sữa, hoặc ăn kém nếu uống quá nhiều nước, dẫn đến lấy chất dinh dưỡng không đủ.

Các trẻ bú mẹ hoàn toàn, làm sao biết trẻ thiếu nước?


 Để ước lượng sữa, bạn có thể tự vắt sữa ra để kiểm tra 1 lần trẻ bú được bao nhiêu ml sữa để ước lượng trẻ bú. Hoặc quan sát những biểu hiện sau đây là cho thấy bé thiếu nước:

+Trẻ trên 6 tháng, đi tiểu ít hơn 6 lần/ngày.

+Trẻ dưới 6 tháng, trong 4-6 giờ mà ko đi tiểu là cho thấy trẻ đang thiếu nước, bạn nên cho trẻ bú  2-3 tiếng/lần để bù nước cho trẻ, nếu trẻ vẫn đi tiểu ít khi bạn tăng lần bú, bạn nên tư vấn chuyên gia dinh dưỡng để biết bao nhiêu lượng nước chính xác trẻ có thể bù thêm.

+ Đối với trẻ em trên 2 tuổi, nếu ko đi tiểu trong 6-8 giờ là trẻ cũng đang thiếu nước.

+ Nước tiểu nên có màu trong, vàng rất nhẹ. Nếu vàng đậm thì cho thấy trẻ thiếu nước.

+ Kế đến là 1 số dấu hiệu báo động là trẻ thiếu nước nhiều: môi khô, có ít hoặc ko có nước mắt khi khóc, trẻ hay khóc vì có cảm giác đau cơ, hóp đỉnh đầu bị lõm

Nếu các trẻ thiếu nước có thể bổ sung nước theo lượng trung bình theo độ tuổi, nếu trẻ bú mẹ hoàn toàn dưới 1 tuổi là ưu tiên bổ sung nước qua sữa mẹ, các trẻ khác thì chỉ nên bổ sung qua sữa hoặc nước lọc đun sôi để nguội.

Lượng nước bổ sung trung bình theo độ tuổi (dành cho các trẻ bú mẹ mà không ước lượng được lượng sữa trẻ bú):

6 - 12 tháng tuổi: không quá 70-80ml/ngày

1-2 tuổi: không quá 340-360ml/ngày